Thứ Hai, 22 tháng 2, 2016

Một số ví dụ về sai lầm khi làm nhãn hiệu

Người ta thường nghĩ rằng quan hệ các bạn chỉ dựa trên một sản phẩm cụ thể chứ chẳng hề dựa trên doanh nghiệp sản xuất ra nó. Minh chứng cho điều này là với phần lớn người biết đến nhãn hàng Downy, Crest nhưng chẳng mấy ai biết doanh nghiệp sản xuất ra chúng là P&G.

>>Xem thêm: thiet ke logo thuong hieu

- Tài sản nhãn hiệu (đo bằng tài sản doanh nghiệp mang thương hiệu trừ đi tài sản công ty ko mang nhãn hiệu đi kèm) càng ngày càng được xem như là một tài sản riêng biệt trong bản cân đối kế toán. Thực tế, quy tắc kế toán ở Anh cho phép điều này. Như Alfred King, giám đốc điều hành NAA (tương tự FASB ở Mỹ) đã nhận xét rằng: "Thương hiệu cần được ghi nhận là 1 tài sản riêng biệt trong bản cân đối kế toán hơn là gộp chung trong tài khoản Goodwill".

- các chuyên gia tài chính ước lượng rằng nhãn hiệu thuốc lá Marlboro chiếm khoảng 40% giá trị của tập đoàn Phillip Morris, tức là khoảng 40 tỉ USD.

- giả dụ bạn sở hữu thời gian, bạn mang thể chọn câu trả lời cho câu hỏi: ví như bạn chia doanh nghiệp Coca Cola ra khiến hai phần – phần trước tiên bao gồm hầu hết nhà xưởng, máy móc, chai lọ, xe vận chuyển, và toàn bộ các tài sản hữu hình khác và phần còn lại bao gồm nhãn hiệu Coca Cola, logo, và công thức bí mật của họ - giá trị của mỗi phần là bao nhiêu?

- Ta có thể lấy ví dụ mới hơn về công ty Amazon.com. Trong sáu tháng đầu 1998, doanh nghiệp sở hữu doanh thu 204 triệu USD và thua lỗ 30 triệu USD nhưng giá trị thị trường của công ty là 5 tỉ USD. Dĩ nhiên một phần giá trị này đến từ cơn sốt web, sự lạc quan thái quá của nhà đầu tư, nhưng số đông là đến từ thương hiệu.

Bạn với thể tìm thấy một loạt ví dụ khác như Dell Computer, Intel, Mircosoft, Sony, Hewlett-Packard, IBM, Apple,…, với phần lới giá trị tài chính cho nhà đầu tư đến từ nhãn hàng. ví như nhãn hiệu càng ngày càng đóng vai trò tài chính quan trọng như vậy thì có lẽ đã tới lúc ta phải coi nó như là một khái niệm về tài chính thay vì một khái niệm thuần túy buôn bán.

không tính tác động của toàn cầu hóa, tình hình còn phức tạp hơn khi xuất hiện các hình thức đối tác chiến lược. những hình thức này mang thể là cùng tác lớn mạnh kỹ thuật như Intel và HP, cùng tác buôn bán như ZDNet và MSNBC, hay chương trình Intel Inside của Intel, hay chương trình tương tự của Cisco. ko kể ra, các công ty khác nhau có thể cộng góp vốn và khoa học để tạo thành một liên doanh mới. 1 ví dụ khác là doanh nghiệp điện thoại vệ tinh Globalstar với một phần ba cổ phần thuộc về Loral Space and Communications, chuyên cung cấp vệ tinh và khoa học liên quan. kỹ thuật viễn thông thì được phụ trách bởi AirTouch, France Telecom, và Vodafone. Qualcomm thì phụ trách phân phối điện thoại và các trung tâm điều khiển. Trong mô hình này, quý khách sẽ dùng dịch vụ của đa số những công ty thành viên và việc quản lý nhãn hiệu sẽ rất cạnh tranh cho từng công ty. Hệ thống những nhãn hàng này sẽ được quản lý ra sao? có bốn, năm nhãn hiệu cùng góp sức tạo ra sản phẩm dịch vụ, thương hiệu nào sẽ xuất hiện trước và tạo mối liên kết sở hữu khách hàng? Ai sẽ trả tiền để tạo dựng nhãn hiệu mới? Ai sẽ được nhiều tiện lợi cuối cùng hơn?

0 nhận xét:

Đăng nhận xét